Việc gia hạn và cải thiện biện pháp hợp pháp hóa trẻ em cư trú bất hợp pháp (2)
Trong trường hợp dưới đây, mặc dù cùng là một gia đình, một số trẻ em đáp ứng đủ điều kiện và được cấp giấy phép cư trú, trong khi những trẻ em khác là anh chị em của chúng vẫn ở lại trong tình trạng cư trú bất hợp pháp. Để giải quyat vấn đề này, Bộ Tư pháp đã đưa ra biện pháp cải thiện để cấp thị thực cư trú khác (G-1) cho các trẻ em anh chị em đó.
Mục đích của biện pháp hợp pháp hóa trẻ em cư trú bất hợp pháp là để đảm bảo quyền được giáo dục cho những trẻ em đã ổn định cuộc sống tại Hàn Quốc. Một khi một trẻ em trong gia đình đã được bảo đảm quyền giáo dục thông qua biện pháp hợp pháp hóa, thì việc hợp pháp hóa cả các thành viên khác trong gia đình là hợp lý để đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền giáo dục (tạo ra môi trường giáo dục ổn định). Hơn nữa, trong quá trình xử lý biện pháp hợp pháp hóa, viên chức phụ trách sẽ phải nắm bắt tình hình của gia đình đó. Vì vậy, việc viên chức phát hiện các trẻ em khác trong gia đình đó đang ở tình trạng cư trú bất hợp pháp nhưng lại bỏ qua tình trạng đó là không hợp lý. Do đó, biện pháp cải thiện nêu trên dường như là hướng đi đúng đắn.
Trường hợp ②: Trẻ em sau khi được cấp thị thực vẫn khó tìm việc làm và khó theo học đại học sau khi tốt nghiệp cấp 3
“Năm lớp 3 cấp 3, tôi đã nộp đơn xin áp dụng biện pháp khẩn cấp và được cấp thị thực loại D-4. Sau khi tốt nghiệp, tôi đã đổi sang thị thực G-1. Tôi đã tìm việc làm rất nỗ lực, thậm chí đã vượt qua vòng phỏng vấn nhưng cuối cùng nhận được thông báo là với loại thị thực hiện tại thì họ không thể tuyển dụng tôi. Tôi đã hỏi tại cơ quan xuất nhập cảnh thì họ nói tôi phải ít nhất đăng ký vào trường cao đẳng trở lên. Tôi đã tìm hiểu một số trường đại học nhưng phần lớn đều yêu cầu nộp giấy xác nhận số dư tài khoản ít nhất 18 triệu won khi nộp hồ sơ xét tuyển. Cha mẹ tôi thậm chí không có đủ tiền để nộp phạt vi phạm, nên đương nhiên là không có số tiền đó. May mắn thay, nhờ sự hỗ trợ của một tổ chức hỗ trợ người nhập cư, tôi đã giải quyết được vấn đề. Tuy nhiên, trường đại học hiện tại tôi đang theo học không có chính sách miễn giảm học phí, nên tôi phải chuẩn bị đủ tiền học phí mỗi học kỳ. Với tư cách là du học sinh, tôi chỉ có thể làm thêm trong giới hạn 20 giờ/tuần. Và để được phép làm việc bán thời gian, tôi cần phải xin giấy phép tại cơ quan xuất nhập cảnh, đồng thời chủ lao động phải cung cấp giấy đăng ký kinh doanh, hợp đồng lao động, v.v. Nhưng mỗi khi tôi yêu cầu những giấy tờ đó, họ thường từ chối hoặc tỏ vẻ khó chịu. Hiện tại tôi may mắn đã tìm được việc làm, nhưng tôi vẫn lo lắng liệu có thể tốt nghiệp đại học hay không.” (Trường hợp của một thanh niên 19 tuổi quốc tịch Philippines)
Trường hợp ③: Một trường hợp gặp khó khăn kinh tế nghiêm trọng khi theo học đại học mà không có cha mẹ ở bên cạnh
“Cha tôi bị trục xuất, mẹ tôi phải về nước do bệnh tật, nên tôi và em trai phải sống một mình. Cho đến khi còn đi học cấp 3, chúng tôi may mắn có người bạn của cha mẹ cho ở nhờ. Khi xin áp dụng biện pháp khẩn cấp để được cấp thị thực, người bạn đó cũng đứng ra làm người giám hộ. Tuy nhiên, khi lên thành phố Seoul để theo học đại học, tôi không còn được hỗ trợ nữa. Để có giấy xác nhận số dư tài khoản khi xin thị thực du học sinh (D-2), tôi phải vay tiền từ các tổ chức hỗ trợ người nhập cư. Học phí cũng nhờ được các tổ chức này giúp xin học bổng. Nhưng chi phí sinh hoạt thì tôi phải tự làm ra. Tôi cố gắng tìm việc làm bán thời gian nhưng lại liên tục bị loại khỏi vòng phỏng vấn vì lý do da đen. Tôi tính nghỉ học để đi làm tại nhà máy nhưng họ nói nếu nghỉ học thì không được gia hạn thị thực D-2. Vì không có tiền nên tôi cũng không thể nộp hồ sơ ở ký túc xá hay thuê nhà trọ. Ban đêm tôi phải lén vào các phòng học trống để ngủ, vệ sinh cá nhân tại nhà vệ sinh của trường. Tôi chỉ ăn được một bữa mỗi ngày tại quán ăn của trường. Cả bảo hiểm y tế của tôi và em trai cũng đã trễ hàng tháng trời.” (Trường hợp của một thanh niên 19 tuổi quốc tịch Nigeria)
Những trường hợp trên minh họa những khó khăn mà trẻ em đã được áp dụng biện pháp hợp pháp hóa nhưng sau khi tốt nghiệp cấp 3 lại gặp phải về vấn đề thị thực, dẫn đến khó khăn trong việc tìm việc làm và theo học đại học, khiến cuộc sống gặp nhiều khó khăn. Để giải quyết những vấn đề này, Bộ Tư pháp cho phép những trẻ em đáp ứng các điều kiện sau được cấp thị thực tìm việc làm (D-10) hoặc thị thực lao động dài hạn trong nước (E-7-Y). Cụ thể, tại thời điểm ngày 30/4/2028, người đó phải: (1) từ 18 đến 24 tuổi, (2) đã cư trú tại Hàn Quốc ít nhất 7 năm trước khi đến 18 tuổi, (3) không có lịch sử cư trú liên tục từ 3 năm trở lên ở nước ngoài trong độ tuổi từ 10 đến 18, và (4) đã tốt nghiệp trung học hoặc cao hơn tại Hàn Quốc.
*Chú ý: Chuyên mục ‘Pháp luật’ đang nhận câu hỏi từ bạn đọc của Đơn vị Đồng hương Hải ngoại. Nếu bạn có thắc mắc về pháp luật Hàn Quốc trong vai trò là đồng hương ở nước ngoài, hãy gửi về [email protected], chúng tôi sẽ lựa chọn chủ đề và trả lời qua chuyên mục này.
