Người cư trú lao động tạm thời và kiều bào gặp khó khăn trong việc giáo dục con cái tại Hàn Quốc dù mức độ hài lòng về cuộc sống tương đương
Theo kết quả khảo sát “Thực trạng cư trú và việc làm của người nhập cư” công bố vào ngày 18/3 năm nay bởi Bộ Tư pháp và Cục Thống kê Hàn Quốc, mức độ hài lòng về cuộc sống của người cư trú lao động tạm thời (visa H-2) và kiều bào (visa F-4) tại Hàn Quốc tương đương với các nhóm người nước ngoài khác.
Cụ thể, mức độ hài lòng trung bình của toàn bộ người nước ngoài cư trú tại Hàn Quốc là 4,3 điểm, trong khi con số này của người lao động tạm thời và kiều bào là 4,2 điểm. Visa H-2 dành cho lao động phổ thông gốc Hàn Quốc, còn visa F-4 cho lao động chuyên môn gốc Hàn Quốc. Theo số liệu của Bộ Tư pháp năm 2024, tại Hàn Quốc có khoảng 83.000 người cư trú với visa H-2 và 400.000 người với visa F-4.
Bên cạnh hai nhóm trên, người nước ngoài tại Hàn Quốc còn cư trú với các loại visa khác như lao động phi chuyên môn, lao động chuyên môn, du học sinh, cư trú vĩnh viễn và kết hôn định cư.
Trong cuộc khảo sát mới đây, Bộ Tư pháp đã tiến hành đánh giá các khía cạnh khác nhau của cuộc sống người nước ngoài tại Hàn Quốc bao gồm hình thức cư trú, số người cùng chung sống, khó khăn trong giáo dục con cái và chi phí giáo dục, mức lương bình quân hàng tháng.
Kết quả cho thấy 86% người cư trú visa H-2 và 71% visa F-4 sinh sống tại nhà ở thường, tỷ lệ sống tại chung cư lần lượt là 7% và không đáng kể. Đa số họ sống cùng gia đình, tỷ lệ sống một mình của H-2 là 28%, F-4 là 22%.
Đáng chú ý, 47% người cư trú visa H-2 có con dưới 18 tuổi cho biết gặp khó khăn trong việc giáo dục con cái, cao hơn mức trung bình 35% của toàn bộ người nước ngoài. Con số này của kiều bào F-4 là 25%.
Về mức lương, 45% lao động visa H-2 nhận lương 20-30 triệu won/tháng, 42% trên 30 triệu won. Tỷ lệ tương ứng của kiều bào F-4 là 41% và 46%.
Khả năng tiếng Hàn của hai nhóm này đều cao hơn mức trung bình 3,4 điểm, lần lượt là 3,8 điểm đối với H-2 và 4,2 điểm đối với F-4. 13,5% người H-2 và 14% người F-4 từng trải qua đối xử phân biệt đối xử, thấp hơn tỷ lệ 27,7% của sinh viên quốc tế và 17,4% của toàn bộ người nước ngoài.
